Tọa đàm "Luật CNTT và định hướng phát triển trong thời gian tới"

Tham dự tọa đàm có đại diện các đơn vị trong Bộ TT&TT, Hiệp hội Internet, Hội Tin học Việt Nam, Hội Vô tuyến điện tử, Sở TT&TT TP Hà Nội và đại diện các công ty như: Viettel, MobiFone, VNPT, FPT, CMC, VTC, DTT, VC Corp, Nhaccuatui, Next Tech, Clip TV… cùng nhiều công ty ICT khác.

Toàn cảnh buổi tọa đàm

Luật CNTT được Quốc hội thông qua năm 2006 là văn bản luật đầu tiên về CNTT ở Việt Nam. Sự thành lập của Luật với các quy định rõ ràng, tường minh đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng về quản lý nhà nước cho việc phát huy và app CNTT thời gian qua. Với quan điểm giúp đỡ và đẩy mạnh phát huy ngành, Luật CNTT đã quy định những điều kiện thiết yếu cơ bản để phát huy công nghiệp CNTT thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời đẩy mạnh app CNTT trong tất cả các mảng kinh tế – xã hội trên phạm vi cả nước.

Sau 10 năm thi hành, Luật CNTT đã bộc lộ một vài bất cập trong bối cảnh CNTT là ngành phát huy nhanh, với các đổi khác có tác động mang tính phá cách. Vai trò của CNTT trong mọi mặt đời sống xã hội, kinh tế, thương mại, giáo dục, quốc phòng… ngày càng quan trọng và được nâng lên tầm cao mới. Từ một mảng kỹ thuật có tính giúp đỡ, CNTT đã trở thành một động lực phát huy có tác động lan toả, toàn diện, giúp đỡ chuyển biến các mô hình kinh doanh, nghiệp vụ truyền thống thông qua đẩy mạnh sáng tạo, đổi mới dựa trên công nghệ số. Sự chuyển dịch mạch mẽ đó đặt ra nhiều thách thức và đòi hỏi các quy định mới hợp trong mảng CNTT.

Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng xác định, sau hơn 10 năm thực hiện thi hành Luật CNTT, tình hình quốc tế, sự phát huy của Việt Nam và bản thân ngành CNTT đã có nhiều đổi khác. Tại Việt Nam, khả năng quản lý, ước muốn app, phát huy CNTT và trình độ dân trí cũng được nâng cao. toàn cầu đã bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI với những đổi khác cơ bản về khoa học, công nghệ, mức độ đối đầu trên trường quốc tế. Đang có những xu thế phát huy công nghệ mới với nhiều phá cách và sáng tạo như IoT, SMAC, AI, Robotic… tất cả các công nghệ trên sẽ là platform để toàn cầu bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Vì vậy, việc rà soát, hoàn thiện các chính sách, pháp luật về CNTT để hợp với xu thế phát huy và thực tế càng trở nên cấp bách. Chính phủ đã đề ra Bộ TT&TT chủ trì, làm Đề án sửa đổi, bổ sung Luật CNTT.

Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng phát biểu tại Tọa đàm.

Phát biểu khai mạc buổi tọa đàm, Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng bày tỏ, với sự hiện diện đông đảo của các nhà quản lý, các Hiệp hội, các công ty, các chuyên viên trong mảng CNTT, ông tin dùng rằng nhiều việc bức xúc, nhiều việc tồn tại của ngành CNTT sẽ có được những kiến nghị, đề xuất tốt trong việc tổng kết 10 năm thi hành Luật CNTT.

“Có thể nói, việc tổng kết 10 năm thi hành Luật CNTT là rất quan trọng. mặc dù vậy, tôi cho rằng, với các công ty, với ngành CNTT thì không những chịu sự tác động riêng của Luật CNTT mà còn bị tác động bởi nhiều Luật khác. Bản thân những nhà kinh doanh, làm việc trong mảng CNTT cũng biết rằng cùng với Luật CNTT còn chịu chi phối bởi nhiều Luật khác. Do đó, quan điểm của chúng tôi, khi tổng kết Luật CNTT, không những là nói đến những tồn tại, những mặt được, chưa được của Luật CNTT mà cũng ước muốn các đại biểu có những đề xuất, kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ về những content, nội hàm ở các luật khác có tác động đến ngành CNTT, tác động đến có tác dụng làm việc của các công ty CNTT”, Thứ trưởng chia sẻ.

Thứ trưởng cũng cho hay, qua 10 năm thi hành Luật CNTT, những suy nghĩ, quan điểm của ta về CNTT đã có nhiều đổi khác, do sự đổi khác nhanh chóng về khoa học công nghệ. Ví dụ như, khi thực hiện Luật CNTT, ta dựa trên platform về hạ tầng, dịch vụ, công nghiệp và nguồn nhân lực. Ngay về hạ tầng, lúc trước ta nghĩ nhiều đến hạ tầng viễn thông, nhưng ngày nay ta đặt việc về hạ tầng thiết bị và các hạ tầng khác như hạ tầng liên kết qua các thiết bị, hạ tầng thanh toán cho các công ty trong mảng content số… Đó là những việc nảy sinh, phát sinh chưa được phô diễn rõ trong nội hàm các văn bản pháp luật. Do vậy, trong quá trình thực hiện còn gặp thách thức.

Hay với việc app, theo cách hiểu truyền thống lúc trước là app CNTT trong cơ quan nhà nước, trong làm Chính phủ điện tử nhưng mở rộng ra nói đến việc app hiện nay là hướng đến làm một xã hội liên kết, phô diễn các mối quan hệ giữa Chính phủ, người dân, công ty. vì vậy, có những việc ta phải xem xét, đặt việc một cách nghiêm túc. Còn về Công nghiệp CNTT, mối quan tâm từ xưa đến nay, nhiều lúc ta chỉ nghĩ công nghiệp làm sao để Nhà nước có sự quan tâm, đặt ra các chính sách ưu đãi, giảm thuế cho công ty. Nhưng ngoài những việc đó ra, hiện nay còn nhiều việc khác mà ta cần quan tâm. Đặc biệt, nguồn nhân lực là việc giúp đỡ rất quan trọng cho 3 mảng trên. Thứ trưởng đề ra, là những nhân vật chính của buổi tọa đàm, đại diện các công ty, các nhà báo sẽ có những ý kiến đóng góp khách quan, thẳng thắn để đóng góp cho tổng kết 10 năm thi hành Luật CNTT và định hướng chính sách thời điểm tới của Bộ có thể phô diễn được phần nào ước muốn của các công ty làm việc trong mảng CNTT.

Đầu tiên, chúng tôi muốn đặt câu hỏi cho ông Bùi Quang Ngọc, Tổng Giám đốc FPT, một trong những công ty ICT lớn với câu hỏi mang tính tổng quát.

Theo ông, hệ thống các văn bản pháp lý, chính sách về CNTT của Việt Nam hiện nay với các nghị quyết, chỉ thị, nghị định, luật và các văn bản khác như quyết định, quy hoạch đã hợp với sự phát huy của ngành CNTT hay chưa? ta cần điều chỉnh thế nào để cung ứng được ước muốn phát huy?

Ông Bùi Quang Ngọc, Tổng Giám đốc FPT

Ông Bùi Quang Ngọc: Câu hỏi này rất tổng quát, bởi vì các văn bản có nhiều mà cũng có nhiều việc có thể thảo luận, mặc dù vậy tôi chỉ xin nói về một vài mảng khá cụ thể. Về các văn bản chính sách quan trọng nhất của một ngành công nghiệp, đẩy mạnh một ngành công nghiệp phát huy là phải tạo ra Cung và Cầu cho thị trường. Trong lúc đó thì các văn bản, thể chế hiện nay của mình về mặt tạo ra Cầu rất yếu. Ví dụ Nghị quyết 36a về Chính phủ điện tử, hiệu lực thì giao chức năng cho nhiều đơn vị, Bộ này phải hành động thế này, UBND tỉnh kia phải hành động thế kia, văn bản thì nói rất hay, Nghị quyết 36a thì nói hay lắm, nếu như theo đề ra của văn bản với những mục tiêu về chính quyền điện tử, giao thông thông minh thì chỉ vài năm sau là nước ta có thể sánh ngang với Singapore về app CNTT trong các cơ quan nhà nước. Nhưng có một thực tế là về tính hiệu lực thì rất yếu, không những vậy có những nơi còn chả làm gì cả.

Tôi cho rằng, khi nhà nước làm văn bản thì phải có tính có khả năng, chú trọng tính hiệu lực, tính có khả năng và có chế tài đi kèm nếu không thực hiện. Văn bản chính sách trong chừng mực nào đấy cần thúc đẩy mạnh vai trò của cơ quan nhà nước, mà ở tất cả quốc gia thì nhà nước là người tạo Cầu lớn nhất, nhà nước phải đi tiên phong, xong mới đến công ty. công ty phải tự thân vận động vì ước muốn đối đầu họ phải yêu cầu tin học hóa. Còn nhà nước phải tạo Cầu kích thích sự phát huy, Cầu nhà nước trong văn bản ra không rõ. Chính quyền với ngân quỹ của mình rất khó khăn, khi cắt giảm ngân quỹ thì ngân quỹ dành cho tin học bị cắt đầu tiên. Các cơ quan nhà nước nếu trụ sở làm việc chật hay thiếu ô tô còn băn khoăn, chứ nếu thiếu tiền thì thiết bị về tin học đang dùng rồi cứ để nguyên đấy. Để đẩy mạnh ngành công nghiệp CNTT phát huy phải tạo được Cầu từ phía nhà nước, phải nêu rõ được trong các chính sách của nhà nước, nhà nước cần phải tạo Cầu cho việc phát huy tin học hóa, tiếp nữa mới đến chính sách đẩy mạnh khác.

Ví dụ về thuế, VINASA đã chủ động làm việc với Chính phủ về thuế thu nhập công ty, thuế thu nhập cá nhân ngành phần mềm cũng bắt đầu được hưởng từ chính sách thuế nhưng không nhiều. Chỉ có những công ty, khu công nghệ cao thì được hưởng, nhưng còn với các starup, cá nhân người Việt đang ngồi ở Việt Nam làm việc cho nước ngoài thì chưa có chính sách ưu đãi họ, đẩy mạnh họ quay trở về làm việc cho Việt Nam. Do đó phải có chính sách thuế thu nhập cá nhân rất rõ để đẩy mạnh, Bộ TT&TT khi làm chính sách rất cần chú trọng phát huy nhân lực. Mục tiêu huy động nguồn lực xã hội cũng phải có chính sách đẩy mạnh, ví dụ việc áp dụng thuế điện tử, hải quan điện tử làm tốt rồi, nhà nước cần có thêm những thể chế đẩy mạnh việc điện tử hóa để tạo nguồn Cầu cho ngành CNTT, tạo đề ra cho xã hội phải tuân thủ, ngân quỹ nhà nước phải đổ tiền vào để app CNTT.

Nhà nước cũng phải gỡ bỏ những chính sách quy định cản trở, giới hạn, ví dụ như chính sách về phí với dịch vụ Internet. Nói về Cầu Chính phủ, Chính phủ điện tử và làm việc khác dùng ngân quỹ nhà nước, Nghị định 102 chỉ dẫn lập dự án CNTT dùng vốn nhà nước quá phức tạp. Vì Nghị định 102 được làm dựa trên cách thức của làm dự án làm cơ bản. Một cách thức “đầy mùi công trường” áp dụng cho chi phí CNTT đầy trí tuệ. Ví dụ, chi phí xây lắp, chi phí thiết bị, được áp cho CNTT, chi phí đào tạo phần mềm, được áp vào chi phí thiết bị, việc áp dụng này rất méo mó, cực kỳ khó thực hiện, không thể làm được. Bộ Tài chính 2 năm chuẩn bị xong 1 dự án, có dự án 3 năm, có dự án CNTT ngân quỹ tỷ lệ chi 85% phần cứng, 15% dịch vụ, chi phí này là méo mó, gây khó khăn cho công ty.

giờ đây chúng tôi muốn nghe thêm một ý kiến nữa của công ty cũng có nhiều đóng góp về chính sách trong thời gian qua. Xin mời ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch CMC.

Ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch CMC

Ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch CMC: Đến với tọa đàm, CMC đã chuẩn bị báo cáo 5 trang khá đầy đủ các kiến nghị. Chúng tôi sẽ chuyển lại cho sếp Bộ. mặc dù vậy, nếu để phát biểu ngắn tôi xin có mấy ý. Luật CNTT thành lập năm 2006 thì CMC đã được hưởng lợi đầu tiên. Là công ty viễn thông tư nhân duy nhất cho đến lúc hiện tại được làm trong mảng viễn thông. Luật 200 cho tư nhân được phát huy trong các ngành hàng pháp luật không cấm, như trong đầu tư hạ tầng. Khi có Luật Viễn thông, lúc trước các quan hệ trong mảng viễn thông được thực hiện bằng các chỉ thị, Nghị quyết, nhiều việc dựa trên hệ thống về quy hoạch, nghị định. Khi có Luật thì tốt hơn nhiều, có cơ sở pháp lý khá đầy đủ cho làm việc phát huy. Luật có những điểm thuận lợi, tích cực cho sự phát huy của CNTT là cơ bản.

mặc dù vậy đi tiếp những văn bản dưới luật, những content còn rơi rớt lại của quá trình trước khi có văn bản Luật tương tư quá trình thực hiện, có nhiều văn bản đôi khi không những vậy trái lại tinh thần của Luật, giới hạn những điều Luật đã cấp quyền. nhiều Thông tư, Nghị định đưa ra gây nhiều khó khăn cho công ty. Ví dụ ngay như với Nghị quyết 36a cũng bị vướng câu chuyện là có sự phân biệt giữa các thành phần nhà nước, tư nhân. Tôi tin các công ty nhà nước cũng không thích bị phân biệt đối xử. Họ cũng thích một môi trường, một thể chế, một luật chơi cho các thành phần. Nhà nước ước muốn được các điều kiện như tư nhân, còn ngược lại tư nhân cũng ước muốn những gì rào cản, mình không được approach thì rất khó khăn. không những vậy có những quyết định của Chính phủ có điểm rất khó khăn. Như quy định về quỹ Viễn thông công ích bắt đầu từ Luật, tiếp nữa Luật đưa ra quy định không có tính thị trường lắm khi Thủ tướng chính phủ sẽ quyết định mức phí và cách thu. Quyết định đó nếu không có những dự báo thuộc thuế hay phí, bản chất của phí là gì, cách thu, cách chi phải rất rõ ràng. Đôi khi kể cả quyết định của Thủ tướng cũng gây ra khó khăn nhất định. Nhìn chung, mức độ khó khăn của văn bản dưới luật nhiều và điều này chúng tôi đã liệt kê trong bản kiến nghị. Về việc làm sao đẩy mạnh nền kinh tế số phát huy: mảng CNTT đóng góp, là động lực quan trọng để phát huy kinh tế số. Để phát huy thì dịch vụ Internet, thoại, liên kết, data… phải phát huy, phải hành động sao ngày càng rẻ để tiềm năng approach rất dễ, bình đẳng cho tất cả các đối tượng quan hệ.

thời gian này có phát biểu của Cục Phát thanh Truyền hình và tin tức điện tử, Bộ TT&TT trên báo chí về MXH: Tôi cho rằng cách phát biểu như thế có cảm giác là mọi người không nhìn thấy các mặt tích cực. Đi ngược lại tư tưởng nền kinh tế số là có một trong những chức năng cơ bản là chia sẻ tri thức. Mà không có gì tốt bằng công cụ MXH để chia sẻ tri thức thì anh lại nhìn thấy đó như một nguy cơ lớn. Đó là tư tưởng cần xem xét lại.

Chúng tôi cũng nêu nhiều chính sách giúp đỡ, ưu đãi. mặc dù vậy mình không đưa ra bàn cân đối chiếu. Ví dụ Việt Nam, Singapore hay Campuchia. Thủ tướng một đất nước như Campuchia cũng dùng MXH để lắng nghe các lời hồi đáp rất tích cực của công ty, người dân.

Xin mời ông Nguyễn Thế Trung, Giám đốc đơn vị DTT trả lời câu hỏi này.

Ông Nguyễn Thế Trung – Giám đốc đơn vị DTT

Ông Nguyễn Thế Trung: ta chuyển sang thời điểm mới là nền kinh tế số, nền công nghiệp lần thứ 4 trong đó có nội hàm quan trọng nhất là một nền kinh tế mới với tài sản mới là tài sản số. Tài sản mới này đi kèm tất cả luật lệ chính sách mới để xác định rằng thế nào là tài sản số và ai được có tài sản số này? Điều này cũng kiến tạo ra các thời điểm mới của nền kinh tế số. Theo tôi, nếu không có khái niệm tài sản số ta sẽ không làm được gì cả. Ý tưởng tôi muốn truyền đạt ở đây là nếu ta hình dung có môi trường mới trong đó có rất tài sản số thì việc giao tài sản này cho ai? Ai là người có quyền dùng nó sẽ là một việc rất lớn mà Luật CNTT phải đổi khác, phải vượt lên các việc về công nghệ và viễn thông đã đã có lần có.

Từ góc độ kiến tạo, data cực kỳ quan trọng. Như anh Quang Ngọc FPT có nói, Chính phủ là nhà book hàng cho các công ty CNTT. mặc dù vậy, theo tôi đó lại chưa chắc đã quan trọng bằng dữ liệu, các data CNTT. Sự đầu tư của Nhà nước lôi cuốn nhưng chưa lôi cuốn thực sự. nếu ta mở ra câu chuyện số vừa là tài sản số, kiến tạo số rất quan trọng. nếu Chính phủ quy định rõ các data của mình. data nào là mật, data nào có thể công bố thì công ty, không những vậy là người dân có thể khai thác và tạo ra nhiều lợi ích khác cho đất nước. Chẳng hạn, trong mảng du lịch thông minh, các công ty có data về du lịch thì có năng suất tăng gấp 3 lần các công ty khác kể cả dùng platform công nghệ. Trong các mảng khác cũng vậy. Nếu ta tính đến sự đổi khác trong các thời điểm tiếp nữa thì cần đi đầu trong việc này.

Thực tế, trong thời điểm số, công ty rất cần các cơ quan nhà nước công khai tường minh trong chính sách và thực hiện các chính sách này. Việc công khai tin tức là để có thể nhìn thấy các bất cập, Nếu cứ để mờ ảo thế này thì ta có thể đánh mất thị trường vào tay công ty nước ngoài. Dù là ta có bao nhiêu Nghị quyết, chính sách đi nữa thì cũng quay về mua sản phẩm của họ. Do đó, theo tôi, trong quản lý cần tường minh các chỉ số. ta quyết liệt dành bao nhiêu phần trăm cho công ty Việt Nam. Đặt ra tiêu chí cụ thể, các chỉ số và các công ty Việt Nam có thể theo dõi. Đồng thời, ta phải có chính sách bảo vệ cho công ty Việt Nam, nhân rộng các mô tạo ra công. Việc Bộ TT&TT có thể làm tốt hơn nữa là kiến tạo ra kinh tế số cho dân CNTT bằng câu chuyện về data công. Hiện nay có xu thế chính quyền số data mở. Có thể đưa ra quy hoạch dùng data của chính phủ. Nếu làm được điều đó nó sẽ tạo ra vô số các mô hình kinh doanh mới, các app tạo ra giá trị mới mà không cần đến nguồn chi ngân quỹ. Bộ TT&TT nên dẫn đầu về việc đo đạc, kiểm tra data về số hóa. tiếp nữa có những quy định, quy hoạch để các công ty, cá nhân có thể dùng, khai thác nguồn data này trong thời điểm tới.

Chuyển sang mảng công nghiệp CNTT, hiện nay có đánh giá quy mô phát huy ngành công nghiệp CNTT còn nhỏ, khả năng làm việc và tiềm năng đối đầu trong khu vực và toàn cầu chưa cao. Với VNPT, công nghiệp CNTT được coi là một mảng trụ cột.

Xin hỏi ông Đỗ Vũ Anh, người dùng HĐTV Tập đoàn VNPT, ông đánh giá như thế nào về công nghiệp CNTT Việt Nam và thời gian tới ta cần nhắm vào nhóm mảng nào để có thể đẩy mạnh công nghiệp CNTT phát huy?

Ông Đỗ Vũ Anh, người dùng Hội đồng người dùng VNPT

Ông Đỗ Vũ Anh: Tham dự tọa đàm, VNPT đem đến nhiều ý kiến đóng góp. Trước khi đi vào câu hỏi của Ban tổ chức, chúng tôi muốn góp ý về 3 việc: Thứ nhất, tôi nghĩ rằng các Nghị định, văn bản, chính sách rất quan trọng, giúp đỡ định hướng cho các công ty, nhất là với các công ty nhà nước, giúp đỡ công ty có thể nắm bắt được các cơ hội, thách thức; lên được chiến lược để có thể sẵn sàng cung ứng được những đề ra của thị trường. Thực chất, các văn bản, chính sách của Nhà nước đặt ra một con đường cho các công ty thấy cơ hội cho đơn vị mình. Hơn thế, VNPT đang thực hiện nhiều dự án về chính quyền điện tử, cổng tin tức hành chính một cửa… Trong quá trình thực hiện các dự án cung ứng cho các cấp chính quyền, chúng tôi thấy rằng nhiều tỉnh làm rất tốt, nhẹ nhàng nhưng nhiều tỉnh thực hiện có việc.

Tôi muốn nêu một vài bất cập như: Cổng tin tức hành chính một cửa với 4 cấp độ, xuống đến các cấp độ phía dưới gặp nhiều khó khăn. Chẳng hạn như về quản lý đất, quan hệ đến sổ đỏ và nhiều việc khác… Sổ đỏ có 3 người, 1 trong 3 người đi vắng, rất khó để giải quyết. Đây là thực tế, cũng không phải là không giải quyết được nhưng không giải quyết nhanh như công ty kỳ vọng. việc nữa quan hệ đến các Luật, chúng tôi cho rằng cần có chiến lược để đồng bộ hóa các Luật của mình khi có sự đổi khác. Chẳng hạn như cụ thể hóa tối đa theo các quy chế chỉ dẫn. Ví dụ như tại Điều 48 về chính sách phát huy công nghiệp CNTT có nêu: “Nhà nước có chính sách ưu đãi, ưu tiên đầu tư phát huy công nghiệp CNTT, nổi bật chú trọng công nghiệp phần mềm và công nghiệp content để trở thành một ngành kinh tế trọng điểm trong nền kinh tế quốc dân”, nhưng tới năm 2016, Chính phủ mới ban hành Nghị quyết 41 của Chính phủ về chính sách ưu đãi thuế đẩy mạnh phát huy và app CNTT. Như vậy, là từ Luật cho đến Nghị định chỉ dẫn cũng có độ trễ nhất định.

Hay như việc đồng bộ tin tức giữa các Luật, xác định trọng tâm content của đã có lần Luật. Ví dụ như Điều 74 của Luật CNTT quy định một vài content khuyến khích giúp đỡ người tàn tật có ghi “Nhà nước có chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và ưu đãi khác cho làm việc: Nghiên cứu – phát huy các công cụ và app nhằm nâng cao tiềm năng của người tàn tật trong việc truy nhập, dùng các nguồn tin tức và tri thức thông qua dùng máy tính và cơ sở hạ tầng tin tức; Sản xuất, cung ứng công nghệ, thiết bị, dịch vụ, app CNTT và content tin tức số cung ứng ước muốn nổi bật của người tàn tật”. song song với đó, Luật Người khuyết tật năm 2010 cũng có quy định “Nhà nước có chính sách miễn, giảm thuế cho cơ sở sản xuất công cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng, trợ giúp đỡ sinh hoạt, học tập và lao động cho người khuyết tật”. mặc dù vậy, thực hiện thực tế những quy định này chưa có chỉ dẫn. Do đó, với những Luật ban hành ra chúng tôi cho rằng cần sớm có chỉ dẫn để quy định của Luật sớm đi vào cuộc sống, đạt có tác dụng hơn.

Ông Trần Hữu Quyền, Tổng Giám đốc VNPT Tech cũng tham dự thảo luận về sự phân biệt đối xử giữa các công ty trong nước và nước ngoài.

Ông Trần Hữu Quyền, Tổng Giám đốc VNPT Tech

Ông Trần Hữu Quyền: Tôi xin chia sẻ về sự phân biệt đối xử giữa các công ty FDI và công ty trong nước. công ty trong nước đang bị ngược đãi so với FDI, nổi bật là về CNTT. Chúng tôi chưa dám xin được ưu đãi hơn và chỉ xin được bình đẳng như FDI. Còn giữa công ty tư nhân và nhà nước: chúng tôi cũng xin công ty nhà nước được đối xử như công ty tư nhân. công ty tư nhân chỉ làm việc theo Luật công ty thì với công ty nhà nước ngoài Luật công ty còn có một vài chế tài khác. Về công nghiệp CNTT, như anh Ngọc FPT đi làm từ trước năm 1997, mấy năm thời gian này mới có doanh thu cân bằng được với các mảng khác của FPT. từ đó cho thấy làm công nghiệp rất vất vả, làm công nghiệp phần cứng còn vất vả hơn nữa vì gồm cả thiết bị, firmware.

Về nhận thức xã hội, trong sự kiện hôm nay có nhiều anh chị trong giới quảng bá xin định hướng giúp đỡ “như thế nào là một sản phẩm có đóng góp trong nước”. sản phẩm của ai thì đó là sáng kiến của người đó, là sản phẩm được người đó phát huy ra… Nhưng điều đó thì quảng bá phải định hướng được không thể nhìn sản phẩm đó lấy linh kiện của ai. Như hiện nay, trong nước mình công nghệ bán dẫn chưa có mà yêu cầu phải dùng công nghệ bán dẫn của Việt Nam thì ở đâu ra. Nếu các anh chị trong giới quảng bá có thể định hướng được dư luận, nâng cao nhận thức của xã hội về việc như thế nào là sản phẩm Việt Nam thì cũng bớt tủi cho những đơn vị như Bkav, VNPT. Dù chúng tôi làm ra các sản phẩm nhỏ thôi nhưng rất tủi hổ khi bị người này người khác nói có phải từ nơi khác đưa sang không. Nếu bị vùi dập thì nền công nghiệp nói chung, công nghiệp CNTT Việt Nam sẽ chết yểu sớm.

Ông Bùi Quang Ngọc, Tổng Giám đốc FPT tiếp tục chia sẻ: Trong lĩnh phần mềm dịch vụ FPT tham dự nhiều, doanh thu từ phần mềm của FPT vượt tất cả tất cả mảng kinh doanh khác, phần mềm dịch vụ là ngành cần nguồn nhân lực cao, nhưng chính sách đào tạo nhân lực cho ngành đang có việc. Chương trình đào tạo trong các trường thiếu công nghệ mới và thiếu tuyệt kỹ làm việc công nghiệp, quản lý dự án. Mỗi năm FPT thiếu 3.000 – 4.000 nhân lực mới, nhưng Đại học Bách khoa chỉ cho ra trường khoảng 300 – 400 người do Bộ Giáo dục & Đào tạo chỉ cho đào tạo như vậy. Do đó, Bộ Giáo dục & Đào tạo cần bỏ khái niệm Quota đi, để cho các trường đào tạo theo ước muốn thị trường. Về đề ra cấp quyền hoán đổi Bằng 2 cho những người có bằng tốt nghiệp đại học ngành khác nhưng đi học về CNTT, Bộ Giáo dục & Đào tạo nghe cũng gật gù nhưng chưa có động thái gì. Nguồn nhân lực cho công nghiệp phần mềm cực kỳ thiếu, cho Internet of Things càng thiếu nhiều hơn vì cơ sở của IoT là trí tuệ nhân tạo đòi hỏi những người giỏi toán, có trình độ trí tuệ cao để tham dự làm. Để ngành dịch vụ phần mềm phát huy cần có chính sách tối đa hóa tất cả trao đổi điện tử, ở đâu có điện tử được bỏ hết giấy tờ đi, hạ tầng thanh toán đã có cần bỏ bớt tiền mặt đi. Nhà nước phải thể chế hóa để yêu cầu các đơn vị phải app CNTT, không những vậy cần có luật yêu cầu cho cả mảng tư nhân, quy định các bệnh viện phải dùng chung nhau hồ sơ điện tử khi đó yêu cầu các bệnh viện phải liên thông nhau.

Khi giao dự án CNTT nên chăng cần tìm cách ưu tiên cho Việt Nam, khuyến khích các nhà thầu Việt Nam tham dự các dự án của nhà nước. Hàn Quốc trong một thời gian dài các nhà thầu nước ngoài không vào được và Hàn Quốc đã trở thành một cường quốc về CNTT. Tôi cũng kiến nghị nhà nước có biện pháp giới hạn sự trợ giá không lành mạnh, một vài công ty có hiện tượng trợ giá không lành mạnh, ví dụ cung ứng đường truyền trong một dự án, hoặc có những lời chào mời Bộ X làm với tôi sẽ được tài trợ cho vài nghìn tỷ lấy từ ngành kinh doanh khác bù vào. mảng giới hạn đối đầu không lành mạnh ở ta chưa được nghiên cứu đầy đủ. Ở Mỹ, châu Âu các công ty như Google hay Faceboook bị sờ gáy liên tục, nếu sai bị đè ra phạt ngay hàng mấy trăm triệu USD. Còn ở Việt Nam người đi đầu trong các tài trợ không lành mạnh chính là công ty nhà nước.

Ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch CMC bổ sung thêm ý kiến của ông Bùi Quang Ngọc: “Tôi đề ra cấm luôn hành vi trợ giá không lành mạnh, không phải là giới hạn”. Luật đối đầu đã có quy định rõ về hành vi đối đầu không lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm, do đó trong mảng CNTT những gì vi phạm luật phải cấm. CMC nhiều lần kiến nghị Bộ TT&TT về giá thành dịch vụ cáp quang, có công ty liên tục bán dưới giá thành đã đề ra Bộ phải cấm. Mặc dù có thể họ lách dưới nhiều kiểu, câu chuyện bù chéo hay không tôi không quan tâm nhưng nếu một công ty bán dưới giá thành nhà nước phải cấm. Trong khi, với nhiều dịch vụ mà công ty nhà nước độc quyền thì lại đang đề ra tăng giá, ví dụ việc chia sẻ lại hạ tầng đang bị tình trạng mỗi địa phương xử một kiểu. Hà Nội một kiểu, Đà Nẵng một kiểu, TP.HCM một kiểu, Hà Nội hiện là nơi có giá dễ chịu nhất. Do đó nhà nước cần quản lý giá dịch vụ CNTT, phối hợp với Bộ Công Thương để ngăn chặn đối đầu không lành mạnh, giúp đỡ các công ty nhỏ, mới ra thị trường. Nếu không những công ty còn non nớt vừa ra thị trường đã bị các ông lớn đánh bại, làm sao phát huy được.

Ông Lưu Hoàng Long: Chủ tịch Hiệp hội công ty điện tử Việt Nam

Theo ông Lưu Hoàng Long, Chủ tịch Hiệp hội công ty điện tử Việt Nam, trong mảng sản xuất thiết bị (phần cứng) các công ty điện tử sản xuất là chính. Chúng tôi hoàn toàn có trình độ công nghệ để có thể sản xuất thiết bị. việc chỉ là thị trường. Nếu các anh ưu tiên sản xuất thiết bị điện tử, CNTT gì thì cũng phải ra bằng chính sách từ đó, khuyến khích tiêu thụ và bảo vệ thị trường tiêu thụ đó. Thế nhưng hiện tại, đa phần lại không có thị trường tiêu thụ cho các thiết bị điện tử, CNTT. Về việc thuế, hôm nay tôi tham dự một hội nghị trong đó có content quan hệ đến Nghị định 134 của Chính phủ trước kia ta miễn thuế cho các sản phẩm gia công trong nước và xuất khẩu, nhưng thời gian này ta chỉ miễn thuế cho các công ty xuất khẩu trực tiếp, còn công ty xuất khẩu gián tiếp thì không được ưu đãi. Do đó, các công ty sản xuất phụ trợ lại hoàn toàn không được miễn thuế. Như vậy là ta khuyến khích nhập khẩu linh kiện chứ không phải khuyến khích sản xuất trong nước.

Còn một việc nữa trong quản lý nhà nước nên chăng cần quan tâm, chú trọng hơn và có các chính sách cho mảng sản xuất điện tử bởi hiện tại có rất ít các văn bản quản lý Nhà nước về lĩnh vực này dù đây là mảng quan trọng và đem lại nguồn thu khá lớn. Theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu về mảng điện tử tính cả FDI năm 2017 có thể lên đến trên 50 tỷ USD. Đóng góp GDP không hề nhỏ. Ngoài kim ngạch xuất khẩu lớn thì mảng sản xuất điện tử cũng lôi kéo khoảng 60.000 lao động, nhiều nhất trong các ngành sản xuất công nghiệp hiện nay.

Ông Nguyễn Thế Tân, Tổng Giám đốc VCCorp

Trao đổi về bất cập trong mảng content số tại Việt Nam, ông Nguyễn Thế Tân, Tổng Giám đốc VCCorp cho rằng: tổng doanh thu của các đơn vị vào khoảng 8.000 – 10.000 tỷ đồng mỗi năm tại thị trường Việt Nam. Nếu tính đơn vị “giả” Việt Nam (như đơn vị Trung Quốc vào Việt Nam làm) thì lên đến 15.000 – 20.000 tỷ đồng mỗi năm. Trong đó có nguồn thu đến từ quảng cáo và game, phim đang lên. Ngành content số có đặc điểm quan trọng là đối đầu với đơn vị xuyên biên giới nhiều. Như Facebook họ có app từ Mỹ, được phân phối tại Việt Nam. Như vậy là đánh nhau ngay trên sân nhà, công ty Việt Nam đang mất dần sân nhà. Thua đến nổi chết thì chưa phải, mà vẫn gượng được. Nhưng nếu tiếp tục diễn biến như hiện nay thì mất hết.

Thua trên sân nhà cơ bản gốc gác từ đâu? Chúng tôi gọi đó là cơ chế bảo hộ ngược. Thay vì giúp đỡ công ty Việt Nam thì công ty Việt Nam lại khó khăn hơn, dù tất nhiên đó không phải là ý muốn của nhà quản lý. Ví dụ về cấp phép. Nếu bình thường công ty Việt Nam phải hành động theo quy định, sai thì phạt, rồi thanh kiểm tra. Đó là những việc phải hành động. Nhưng ngược lại, công ty nước ngoài lại không cần như vậy. Như Facebook không phải kiểm duyệt, giải trình khi có content phản động… Ngành content số là ngành cấp phép. Nếu cấp phép làm con cá thì chỉ được phép làm con cá. Nếu làm trang tin điện tử thì không làm MXH. Đã làm nhạc trực tuyến thì không được làm tin tức tổng hợp. Nhưng trong ngành Internet thì có app như Facebook không biết gọi là gì khi vừa là MXH, vừa đọc báo hay livestream… Còn công ty Việt Nam nếu làm sai giấy phép thì phạt vài chục triệu, nếu sai 3 lần thì đóng cửa. Không công ty nào dám bỏ ra 10 triệu USD đầu tư vào cái không có giấy phép. Như VCCorp, ném ra 100 tỷ để làm thì ngày mai không biết có tương lai hay không, hay lại thành vi phạm quy định đi tù. Dù đó không phải là ý định của nhà quản lý mà lại là bảo hộ ngược, trói tay công ty.

Bảo hộ ngược thứ hai là quan hệ đến thuế. Daonh nghiệp Việt Nam đóng tất cả các loại thuế. Trong khi công ty xuyên biên giới lại không: không thuế thu nhập cá nhân VAT, không thuế thu nhập công ty, không bảo hiểm… Việc phải đóng nhiều loại thuế khiến chúng tôi khi bán một sản phẩm lại bị đội giá lên vài chục %. Những bất lợi đó càng ngày càng khiến công ty Việt Nam teo tóp. Đó là những việc thực tế công ty Việt Nam đang gặp phải. Hiện thị trường Việt Nam có quy mô khoảng 1 tỷ USD. Đó là dịch vụ xuyên biên giới công ty nước ngoài cung ứng tại Việt Nam, còn công ty Việt Nam nếu có dịch vụ tốt thì cung ứng ra nước ngoài như Flappy Bird của Nguyễn Hà Đông. Hay công ty nhỏ lẻ có doanh thu vài trăm tỷ đồng mỗi năm nhưng họ phải ẩn mình đi. vì sao họ phải trốn? Bởi với tình trạng pháp luật hiện nay thì ẩn mình đi cho đỡ phức tạp. Tiền chuyển về account nước ngoài dù sống ở Việt Nam, người Việt Nam bán ra nước ngoài. Quy mô của thị trường này trong gần 5 năm đạt 1 tỷ USD, trong 20 năm là 5 tỷ USD thì 1 tỷ USD và 5 tỷ USD này ý nghĩa thế nào? Như ngành dệt may, nếu xuất khẩu 5 tỷ USD thì Việt Nam thu về 10%, khoảng 500.000.000 USD. Còn 1 tỷ USD xuất khẩu content số ra nước ngoài thì thu về khoảng 700.000.000 USD, trừ ra các chi phí thì khoảng 500.000.000 USD. Như vậy, xuất khẩu 1 tỷ USD của content số thì giá trị mang về cho Việt Nam tương xứng với 5 tỷ USD của dệt may. Cho nên tôi mạnh dạn dự báo trong 5-10 năm tới, nếu ngành content số phát huy thì chỉ đứng sau du lịch, còn lại vượt qua dệt may, xăng dầu… về giá trị kinh tế đem lại cho Việt Nam. Cùng đó ước chừng có 1 triệu lao động.

Ngành này phát huy từ chính công ty trên sân nhà của Việt Nam. Còn nếu họ bị lấn sân thì sẽ không còn hy vọng. Tất cả các đơn vị content số Việt Nam hầu như đi lên từ tay không, dùng nguồn lực duy nhất là con người. Tuyển dụng về CNTT, content, người làm… rồi kinh doanh. Vốn chưa bao giờ xin của Nhà nước hoặc tự làm hoặc gọi đầu tư từ nước ngoài. Nhiều anh em content số phát biểu nhiều lần không hy vọng được ưu đãi, chỉ mong gỡ các bảo hộ ngược. Theo nguyên tắc cái gì không thu của công ty nước ngoài thì đừng thu của Việt Nam. Bộ TT&TT nên đề xuất với nhà nước gọi ngành content số là ngành kinh tế trọng điểm, khi có tư tưởng như vậy thì sẽ biết được là làm ưu đãi gì. Điều đáng buồn là quá ít người hiểu ngành content số là gì, các chính sách ưu đãi thì như đứa con bị bỏ rơi. Nếu xin chứng chỉ công nghệ cao thì xin Bộ KH&CN. Còn xin chứng chỉ tôi là công ty content số có lợi cho quốc gia cần ưu đãi thì không biết gặp ai. Theo tôi, Bộ TT&TT nên đứng ra làm, coi là ngành trọng điểm và phát huy. Ngành content số, ưu đãi cần nhắm vào đâu? Tiền không cần vì công ty tự kiếm từ thị trường. Đó là ưu đãi về con người, là nhân lực CNTT. Như VCCorp có 1.700 người thì 60-70% còn lại là làm content, sản phẩm, làm, quảng cáo… Cần có ưu đãi cho họ.

Ông Nguyễn Thanh Hưng, Giám đốc VTC Intecom

Ông Nguyễn Thanh Hưng, Giám đốc VTC Intecom: Luật CNTT có nhiều quy định vĩ mô quá trong khi công ty cần những điều thiết thực hơn. Quy mô của ngành content số ngày càng lớn, cách đây 10 năm doanh thu của content số từ dịch vụ giá trị gia tăng đã đạt 3.000 – 4.000 tỷ đồng, đến nay quy mô ngày càng lớn, từ truyền hình, các dịch vụ trên trực tuyến, sự dịch chuyển sang ngành quảng cáo trực tuyến, các content trên MXH… Về mặt chính sách, đang có một vài giới hạn sự phát huy của ngành content số trong nước, nhà nước có quy định quản lý content số trong nước rất chặt. Việt Nam không phát huy được MXH trong nước vì bị quản lý content tin tức rất chặt chẽ, trong khi những content ấy nếu được đưa lên Facebook thì không bị ai hỏi đến. Ngành game trực tuyến nhà nước quy định Game G1 phải phê duyệt content kịch bản, với các thủ tục hành chính giấy tờ nhiều, mặc dù vậy khi gửi hồ sơ xin phép thì các anh phê duyệt không chơi game nên làm sao đọc được. Đối với game điện thoại trên Store một ngày ra bao nhiêu game mới không sao kiểm soát được. Trong khi chỉ có công ty Việt Nam bị quản lý chặt, dễ bị sờ gáy không sao phát huy được.

Một giới hạn khác, ngành content số đang chuyển dịch mạnh từ PC sang điện thoại, nhưng chính sách quản lý vẫn chưa hợp, quy định chỉ xoay quanh các quy định mà chỉ áp dụng cho thị trường Việt Nam. content số trên điện thoại đang bị cảnh “một cổ hai tròng”, một là phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Việt Nam, hai là phải tuân theo các quy định của các nhà cung ứng platform, do đó công ty phải tìm cách cung ứng các đề ra của các Store để có thể đưa game lên được. Nhưng hiện tại các công ty Việt gặp thách thức khi thanh toán làm mất tiềm năng đối đầu của công ty Việt. Chính vì có nhiều giới hạn về chính sách nên các công ty content số Việt không còn mặn mà đầu tư vào công nghệ content số, muốn phát huy ngành này phải đầu tư tương đối dài hạn, một platform tốt cần được đầu tư từ 3 – 5 năm nên ngành content số Việt đang mất dần niềm tin chỉ còn xu thế khai thác dịch vụ ngắn hạn, không đầu tư dài hạn.

Luật CNTT có quy định ưu đãi cho sản phẩm công nghệ trọng điểm, công ty content số cung ứng nhiều dịch vụ cho hàng triệu người sử dụng như VTC có studio sản xuất game cung ứng cho thị trường Mỹ, châu Âu nhưng thực tế chưa có chính sách khuyến khích cho những làm việc đó. Tôi cũng đưa ra một vài đề xuất với Bộ TT&TT trong quá trình làm chính sách cần có chỉ số cụ thể, đừng đưa luật chung chung, đề ra ngành thuế ưu đãi nhưng chả ai thực hiện, chả ai ưu đãi, do đó luật phải rất cụ thể.

Bộ TT&TT cần nghiên cứu chính sách đề ra các công ty nước ngoài khi vào Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Kinh tế số là nền kinh tế không có biên giới, cần có chế tài đối với các công ty toàn cầu như Google, Facebook khi họ có doanh thu hàng nghìn tỷ đồng từ thị trường Việt Nam nhưng không đóng thuế. Trong việc phối hợp giữa công ty Việt với công ty cung ứng platform Bộ không trao đổi giúp đỡ với công ty nước ngoài là một thiếu sót, thiệt thòi cho công ty Việt. Đề nghị Bộ dễ làm hóa thủ tục hành chính, đúng với mục tiêu chính phủ kiến tạo, cụ thể giảm bớt cấp phép trong các mảng do Bộ quản lý, giảm bớt thủ tục cấp phép game. Như kinh nghiệm Trung Quốc chẳng hạn, Trung Quốc có biện pháp kỹ thuật có chế tài để công ty nước ngoài không vào được Trung Quốc, do vậy ta cũng có biện pháp chặt hơn với các công ty Trung Quốc, đó chính là việc an ninh quốc gia.

Ông Nhan Thế Luân, đại diện Nhaccuatui

Vẫn quan hệ đến việc quản lý content số, nổi bật là việc bình đẳng giữa các công ty xuyên biên giới, ông Nhan Thế Luân, đại diện Nhaccuatui xác định rằng: các đơn vị lớn nhất trên toàn cầu hiện nay như Google, Faceboo, Amazon… đều là các đơn vị phát huy dịch vụ trên platform Internet. Các đơn vị phát huy mạnh bởi ngành này đặc thù không giới hạn về vị trí địa lý, không gian, công nghệ nên có thể phát huy nhanh. Khi bước ra toàn cầu, ta có thể approach 4 tỷ dân toàn toàn cầu. Đó là lý do vì sao các đơn vị Internet lại lớn như thế. Ở Việt Nam, ta hoàn toàn có tiềm năng phát huy mạnh hơn hiện nay. Như anh Nguyễn Thế Tân nói, các đơn vị nhỏ như chúng tôi đang gặp một việc đó là phải đối đầu với các đơn vị nước ngoài lớn vừa bị “trói buộc lại trong góc tường”. ta có thể hình dung, trong số 300 web được cấp phép hiện nay thì tổng traffic chỉ chiếm khoảng trên 20% so với các ông lớn nước ngoài như Google, YouTube, Facebook dù họ không có giấy phép tại thị trường Việt Nam.

một vài kinh nghiệm đã chia sẻ lại là một vài đơn vị có xin giấy phép làm MXH nhưng chưa kịp làm đã chết trước khi Facebook lớn mạnh như ngày hôm nay. Tại sao là khi quá tuân thủ pháp luật thì vô hình chung, các đơn vị nước ngoài có điều kiện thuận lợi hơn để phát huy. Những quy định quá chặt của ta càng ngày càng khiến cho các đơn vị Việt Nam bị teo tóp đi. Do đó, ước muốn các cơ quan quản lý Nhà nước có thể tạo sự công bằng. Nhà nước đưa ra chính sách công bằng với các đơn vị nước ngoài. Nghĩa là các đơn vị nước ngoài cũng cần phải có giấy phép hoặc chế tài mạnh mẽ nào đó để các giấy phép có và thực sự có tác dụng giữa hai bên. Một cách công bằng hơn, ta thường nói rằng vì sao không ủng hộ hàng Việt? Thì từ trong bản thân mỗi ta lợi ích cá nhân nhiều nên các đơn vị Việt Nam “tàn sát” lẫn nhau, dẫn đến hậu quả này. ta đóng góp đẩy thị trường cho nước ngoài nhiều và các công ty trong nước chưa bảo vệ lẫn nhau.

Về ưu đãi, nhất là thuế, thật ra Việt Nam có cơ hội lớn trong hút vốn đầu tư. Nhưng để đơn vị Việt Nam nhận vài chục triệu USD là rất hiếm. Trong lúc đó, các đơn vị ở các quốc gia khác như Singapore, Indonesia có thể nhận đươc hàng tỷ USD tiền đầu tư. Tại sao là chính sách của các nước được giúp đỡ nhiều cho các công ty. Đặc biệt là chính sách thuế. Do đó, đề xuất của tôi là nếu coi đây là ngành kinh tế trọng điểm thì hoàn toàn có thể dùng các chính sách về thuế để chẳng những giữ được các nguồn thu trong nước mà còn hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Ông Nguyễn Xuân Cường, Phó Chủ tịch Hội quảng bá số

Theo ông Nguyễn Xuân Cường, Phó Chủ tịch Hội quảng bá số, ở khâu hành động trong mục tiêu (Kiến tạo – Hành động – Liêm chính) có khá nhiều việc. Luật CNTT có quy định chung, có điều lại khá cụ thể, quy định của pháp luật khi thực hiện quả thực khiến công ty lúng túng, làm quá trình hành động chậm. Luật CNTT nói về các dịch vụ CNTT quan hệ đến mảng y tế, giáo dục, nông nghiệp… các Bộ tiếp quản ngành này phải có văn bản chỉ dẫn, nhưng thực tế chưa có văn bản chỉ dẫn được ban hành. Cụ thể khi thực hiện nông nghiệp thông minh, một công ty nhỏ của Hội muốn làm và ký một hợp đồng với một đơn vị làm nông nghiệp thông minh, thực hiện dịch vụ bay flycam để phun thuốc. Khi ký phối hợp đồng, nếu chiểu theo văn bản quy định không thấy có gì vướng mắc, nhưng khi thực hiện tự nhiên có mặt một văn bản của Bộ Quốc phòng đề ra phải xin phép khi bay flycam, công ty đó làm nhiều thủ tục hành chính giấy tờ, từ xin phép giấy nhập khẩu thiết bị đến giấy phép bay, bay ở khu vực nào cánh đồng nào cũng phải xin phép, đây là một lúc không quan hệ trong quy định của Luật nhưng bỗng dưng có mặt.

Các công ty quảng bá và content số đang ước muốn được bình đẳng, bình đẳng giữa các loại hình công ty trong nước, bình đẳng giữa các công ty nhỏ – vừa – lớn, giữa công ty tư nhân với nhà nước, giữa công ty trong nước với các công ty nước ngoài, công ty xuyên biên giới, FDI. Luật khi sinh ra phải hành động được điều đấy, không phải luật sinh ra bảo hộ ngược cho các công ty nước ngoài do đó cần hiệu chỉnh lại, có những quy định với công ty trong nước phải đi theo hướng không cấp phép mà chuyển sang hậu kiểm, giảm bớt các thủ tục hành chính. Cụ thể, content số hầu như là công ty khởi nghiệp chủ yếu dựa vào nguồn lực và nội lực của mình là chính nhưng các công ty khởi nghiệp hiện bị đối xử bất bình đẳng ngay trong nước.

Ví dụ, công ty CP bị bất bình đẳng với các nhà mạng, bản thân các nhà mạng thay vì làm hạ tầng làm platform của các nền kinh tế khác, bản thân công ty tập hợp chưa cao, xã hội chưa thực sự được hưởng từ các dịch vụ do các công ty này cung ứng. Nhưng các nhà mạng cũng nuôi dưỡng các công ty content số, chúng tôi đã có dữ liệu chứng minh có hiện tượng bù chéo thông qua báo cáo tài chính của các công ty này, bù chéo bằng biện pháp kỹ thuật thông qua hệ thống billing tạo ra đối đầu không lành mạnh. Từ đó chính sách của nhà mạng với công ty content số không ổn định, họ thoải mái điều chỉnh theo hệ thống như bốc thuốc. Ví dụ có ngày hệ thống billing bị trục trặc, họ tự lấy dữ liệu nào đó bù vào, công ty content bị thiệt phải chịu. công ty content số trực thuộc nhà mạng tạo ra bức tranh méo mó cho ngành content số, sự phân chia giữa các công ty content và nhà mạng biến động không ngừng, nhà mạng thích thế nào chia như thế, đầu tiên chia 60% cho CP, sau giảm 50%, 40%, không những vậy có 30%, chính sách của nhà mạng không ổn định khiến các công ty content không thích đầu tư dài hạn, ngành content số có nguy cơ teo tóp.

Cách mạng 4.0, IoT phải phát huy mạnh thanh toán không sử dụng tiền mặt, nhưng hiện nay tỷ lệ thanh toán qua thẻ cào rất lớn, trong khi các nước tỷ lệ dùng thẻ cào rất ít. Trung Quốc lúc trước cũng dùng thẻ cào nhưng giờ nếu không dùng e-wallet sẽ không không thanh toán được. Đề nghị Bộ TT&TT phải chỉ đạo các công ty viễn thông điều chỉnh lại, nếu Bộ không tác động thì tỷ lệ thẻ cào rất lớn, thẻ cào vẫn là tiền mặt. Việc này cần làm được ngay làm giảm chi phí thanh toán liên kết, nâng cao sự đối đầu. Sự bất bình đẳng giữa công ty content số, quảng bá trong nước với nước ngoài, cơ chế đối thoại với tư bản chưa được có tác dụng, ta đang tương tác với công ty toàn cầu với đại diện của họ ở Đông Nam Á, chưa có cơ chế trực tiếp với đầu não. công ty nước ngoài muốn có thị trường có doanh thu ổn định, thời gian tới Hội quảng bá số sẽ có tương tác trực tiếp với đầu não của các công ty nước ngoài, Việt Nam là thị trường lớn nên việc tương tác trực tiếp với các công ty toàn cầu là rất cần.

Ông Bùi Quang Ngọc, Tổng giám đốc FPT cho hay: quan hệ đến mảng content số, công ty trong nước đưa ra các kiến nghị cần được bình đẳng, nhà nước cần lập kế hoạch ra các chiến lược cho đã có lần mảng trong ngành CNTT- viễn thông nói chung là rất cần. Ý kiến về việc các đơn vị viễn thông lớn của Việt Nam đang nuôi các công ty content số của họ, theo tôi Bộ TT&TT cần ghi nhận và có chính sách quản lý thế nào cho hợp đảm bảo đối đầu lành mạnh cho ngành content số phát huy. Đối với ý kiến của các công ty content số trong nước về việc chính sách đang bảo hộ ngược cho các công ty nước ngoài, rồi công ty trong nước bị ngược đãi so với với công ty nước ngoài tôi nghe không được thuận tai lắm. Chính xác ra các anh phải nói là công ty trong nước không được ưu đãi bằng công ty nước ngoài.

Tôi nói ví dụ, cách đây hơn chục năm khi Intel muốn đặt nhà máy ở Việt Nam cả hệ thống chính trị của Việt Nam khi ấy phải vào cuộc để Intel có thể đầu tư được. Samsung cũng vậy, họ đầu tư mấy chục tỷ USD, nếu không ưu đãi, không khuyến khích, họ bỏ đi sang các nước lân cận ngay. Ngành content số cũng vậy, công ty trong nước đề ra công ty nước ngoài phải xin giấy phép, nếu nhà nước đề ra họ xin phép, họ thuê tư vấn chỉ 1 tuần họ có giấy phép. Khi họ có giấy phép rồi các bạn có chiến đấu lại được không, đảm bảo họ vẫn là người to lớn, trận chiến nào cũng thế thôi. ta không nên đối chiếu với Trung Quốc vì họ là cường quốc. Nếu ta học tập Malaysia hay Thái Lan xem họ làm sao hãy học tập, không nên học Trung Quốc. Trung Quốc họ chặn được Facebook, Google vì có MXH riêng còn ta không có MXH để thay thế. Không có Facebook, Google ta “chết ngay”. Câu chuyện chiến đấu với người to lớn xuyên biên giới không phải câu chuyện về quản lý mà là trận chiến về công nghệ, con người và platform, Việt Nam sẽ luôn là người thua thiệt vì ta quá nhỏ. Tôi cũng không đồng tình kiến nghị bỏ giấy phép game, game vẫn cần phải được cấp phép và quản lý content song có thể kiến nghị bỏ bớt một vài thủ tục hành chính.

Kết luận buổi Tọa đàm, Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng cho hay, mục tiêu khi tổng kết việc thi hành Luật CNTT cũng là dịp để xác định những rào cản, việc mà Nhà nước, Quốc hội cần thấy mà nếu không giải quyết được thì không thể đưa CNTT lên một tầm mới như mong muốn là làm ngành hạ tầng của hạ tầng, không thể giúp đỡ cho Chính phủ của ta trở thành một chính phủ kiến tạo. Những content quan trọng trong tổng kết Luật CNTT hiện nay cần được quan tâm là sự chồng chéo trong Luật, trong việc quản lý Nhà nước phô diễn ở những việc cụ thể. ta ước muốn sự thông thoáng trong đầu tư, nhưng thực chất mà nói việc này lại bị điều tiết bởi pháp luật khác. Sự chồng chéo còn phô diễn trong việc đối đầu. Có thể nói, tất cả các việc về đối đầu đều đã được quy định trong Luật đối đầu, thế nhưng rất khó điều tiết các việc đối đầu bởi Luật đối đầu áp theo chiều ngang và có thể được áp dụng cho các ngành. Nhưng lại không có các việc quy định cụ thể. Các điều khoản đó không thể điều tiết một vài hoàn cảnh cụ thể và đặc trưng trong mảng viễn thông hay CNTT.

Ông Nguyễn Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Tin học Việt Nam (VAIP).

Ông Nguyễn Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Tin học Việt Nam (VAIP) phát biểu: Ở góc độ các Hội, Hiệp hội ta cũng nhận thấy rằng 10 năm công nghệ đổi khác nhiều. Chúng tôi nhớ rằng cách đây hơn 10 năm, vào năm 2005, Luật trao đổi điện tử thành lập. Tiếp đó, năm 2006, Luật CNTT được ban hành. Lúc đó, giới CNTT nước nhà còn đang tranh luận về doanh thu ngành phần mềm là 500.000.000 USD hay 1 tỷ USD. Còn hiện nay, mảng content số có doanh thu đạt 1 tỷ USD; doanh thu của các ngành viễn thông, phần mềm, điện tử… cũng rất lớn. Đó là thành công của Luật CNTT. Theo đánh giá của chúng tôi, Luật rất ổn nhưng việc là ta có thực hiện được không. Tôi muốn đề cập một vài điểm đã được quy định trong Luật nhưng đến nay vẫn thấy khó thực hiện. Đơn cử như việc CNTT có phải là ngành kinh tế trọng điểm hay không? Hay vẫn chỉ được coi là ngành phụ? Các công ty viễn thông, CNTT đã đóng góp rất lớn trong thời gian qua. mặc dù vậy, thực tế hiện nay việc ghi mục lục chi cho CNTT trong Mục lục ngân quỹ, qua nhiều lần họp vẫn chưa chốt được tỷ lệ % được Bộ Tài chính thống nhất ghi.

Hay như việc đầu tư thực hiện hệ thống CNTT theo Nghị quyết 36a của Chính phủ, các đại biểu cũng đã ý kiến, kinh phí rất khó khăn. Chính vì vậy, chúng tôi kỳ vọng Bộ TT&TT làm tổng kết 10 năm thi hành Luật CNTT nghiêm túc để đưa ra đề xuất, kiến nghị với cấp trên là ngành CNTT thời gian qua đã rất nỗ lực, là ngành kinh tế trọng điểm, đã và sẽ đóng góp nhiều cho nền kinh tế đất nước; thế nhưng vì sao ngành ta vẫn bị coi là thứ yếu, là ngành phụ, vẫn phải đi “xin”. Về nguồn lực CNTT, r