Cô bé bán chanh thành ‘bà trùm’ nồi cơm điện

Xuất thân từ gia đình làm nông, có 8 anh chị em tại tỉnh Vĩnh Phú (nay thuộc Vĩnh Phúc), như bao gia đình khác, Khổng Thị Minh đã sớm ra đồng làm lụng tích điểm để đủ tem phiếu đổi gạo.

Dù nghèo khó, nhưng “máu” kinh doanh đã gắn với Minh từ nhỏ. Hồi học lớp 5, nhà có trồng chanh, người đi buôn từ Vĩnh Yên – Hà Nội xuống mua ùn ùn, nghe nói bán lãi cao. Vậy là Minh nói với bố không bán chanh cho họ nữa, rồi táo bạo đề ra: “Bố bán thiếu cho con đi, bố bán cho người ta bao nhiêu, con trả cho bố bấy nhiêu”.

Nói là làm. Minh quẩy hai giỏ chanh sau lưng, đội nắng dạo bộ 30 km từ nhà để đón tàu chợ ra Hà Nội trong 3 giờ đồng hồ. Nhưng trong lần đầu vì chưa có kinh nghiệm, Minh đổ hết chanh ra rổ, vậy là người mua qua lại cứ tiện tay bốc lấy mà không kiểm soát được, nên kết quả là lỗ.

Sợ bố la rầy, hơn nữa nếu nói ra bố sẽ không cho đi buôn nữa, cô bé mới hơn 10 tuổi đành mượn bạn, và đập ống heo trả tiền cho bố. Rút kinh nghiệm lần thứ hai, Minh đổ chanh từ từ ra rổ, cứ hết mớ này mới đổ mớ tiếp nữa, và rồi cũng có lãi.

“Nhà nghèo quá, học xong lớp 7 bố nói nghỉ học, vì cho rằng con gái học cao khó lấy chồng, nên buông sách vở là tôi ra đồng, xỏ đôi quang gánh”, Minh nhớ lại và cho hay thường trực trước những nhà có điều kiện, chờ họ gọi đi gánh nước đổi lấy bát cơm, hay củ khoai.

“Ở huyện có 38 xã, thì hết 38 xã có dấu chân của mình đến làm mướn. Người ta con gái đến 15 tuổi là tính chuyện có chồng, còn tôi không có khái niệm đó”, Minh kể.

Và rồi bước ngoặt quan trọng làm đổi khác cuộc sống của cô thôn nữ khi người chú ruột báo với gia đình có suất học công an. Minh xin và bố chấp thuận ngay. 6 tháng thách thức, bổ túc văn hoá, nghiệp vụ, Minh được chọn. Năm 1978, cô khăn gói vào TP HCM, làm ở ban hậu cần, 5 năm sau thì lập gia đình cùng người bạn trong cơ quan.

co-be-ban-chanh-thanh-ba-trum-noi-com-dien

Bà Minh hiện có 2 nhà máy sản xuất hàng điện gia dụng cho doanh thu mỗi năm trên 800 tỷ đồng.

Là cán bộ hậu cần có chất lượng, nhưng cô cán bộ trẻ vẫn cảm thấy cuộc sống cần thêm đổi khác, hơn nữa lương bổng hai vợ chồng cộng lại khi đó chỉ vừa đủ sinh hoạt. Tranh thủ mỗi năm có một tháng nghỉ phép, Minh thử kinh doanh. Cô mạnh dạn vay của người bạn 2 triệu đồng để kinh doanh máy bơm nước.

“Ngay lần đầu tiên tôi đã lãi 2 triệu đồng vì thời đó loại hàng này hi vọng cao, lãi mỗi cái 500.000 đồng, trong khi vàng chỉ hơn 200.000 đồng một chỉ”, Minh hào hứng kể và cho hay thêm tranh thủ buổi chiều đi làm về lại đạp xe ra Chợ Lớn lấy vải gửi ra ngoài bắc kiếm lãi.

Kinh doanh tốt, với tiềm năng nhạy bén với thị trường, năm 1994 Minh xin nghỉ việc và quyết làm ăn riêng. lúc những năm cuối thập niên 1980, đầu 1990 là buổi giao thoa giữa bao cấp và nền kinh tế mới, hàng điện gia dụng trôi nổi, nhất là hàng Trung Quốc thống lĩnh thị trường Việt Nam. Khi đó, Minh đã chính thức bước vào thương trường, miệt mài đánh hàng từ Lạng Sơn, Móng Cái… vào Nam. Theo đó, tiền lãi cũng rất to lớn.

Công việc kinh doanh ngày càng khấm khá, Minh quyết định gom hết tiền để kinh doanh BĐS, nhưng bị lừa mua đất dự án nên trắng tay. Vậy là quay về nghề cũ, mở cửa hàng be bé kinh doanh ống nước, máy bơm, hàng gia dụng, rồi cũng lại tích góp được một vài tiền. Nhưng lúc này, Minh có trăn trở là người Việt cứ đua nhau mua hàng Trung Quốc, nhất là sản phẩm nồi cơm điện rất ưa thích bấy giờ, trong khi không thấy thương hiệu Việt nào.

Đầu năm 1998, Minh mua nồi cơm điện về, với hai chiếc tuốc vít, cô bắt đầu mổ xẻ, nghiên cứu, để rồi một năm sau đã nắm chắc quy trình và nguyên tắc cho ra một cái nồi hoàn hảo.

“Nhìn một cái nồi có vẻ dễ làm, nhưng để làm ra phải qua nhiều công đoạn, phải mua khuôn, lồng… tới 42 cụ thể. Công trình đầu tay ngốn hết 2 tỷ đồng tiền tôi vay mượn”, Minh kể và cho hay một năm sau lập ra đơn vị cơ điện Minh Khoa để thỏa niềm mơ ước về một chiếc nồi “đầy màu sắc hoa văn” do người Việt sản xuất, lấy thương hiệu Kim Cương.

đầu tiên, bà chủ trẻ thuê một nhà xưởng rộng 300m2, có 10 nhân công, sản lượng khiêm tốn mỗi ngày chỉ 30 chiếc. Thế nhưng, theo bà “người ta sản xuất ra để bán nhưng tôi sản xuất ra để… ngắm. Ngày nào tôi cũng ôm lấy cái nồi, lau lau chùi chùi, mân mê nó như đứa con của mình. Thế nên, sau ba tháng tôi mới chịu bung sản phẩm ra thị trường”. Bà Minh cho hay lô top 1 tiên đến từ một khách hàng ở Cần Thơ đặt chỉ có 12 cái. Khách mua về bán thấy rẻ, đẹp, vậy là lần thứ 2 đặt 100, thứ 3 tăng 300… rồi đến lúc không kịp hàng để bán.

“Thế nhưng đường đời mấy khi suôn sẻ, nhất là trong mảng kinh doanh mang tính đối đầu cao này. Mình làm ra được hàng có nhãn mác hẳn hoi, bảo hành trọn gói, bán chạy, trong khi thị trường toàn hàng Trung Quốc không nhãn mác, vậy mà tôi bị  đối thủ chơi xấu, tung tin hàng giả, hàng nhái, làm ảnh hưởng lớn đến thương hiệu. không những vậy, chỉ sau 2 tháng tung hàng ra thị trường, Quản lý thị trường chia thành hai đội ập xuống đơn vị và điểm kinh doanh. Họ làm dữ lắm, hoạnh họe đủ kiểu, nhốt công nhân lại, đến khi tôi chứng minh có giấy tờ hợp lệ họ mới xin lỗi và nói trinh sát báo cáo sai”, bà Minh bộc bạch.

Được thị trường đón nhận tích cực, từ năm 2004 đến nay bà Khổng Thị Minh mạnh dạn đầu tư 2 nhà máy trị giá gần 1.000 tỷ đồng tại Củ Chi. Từ việc chỉ sản xuất chiếc nồi cơm điện, đơn vị Minh Khoa đã đa loại sản phẩm từ quạt, bếp đun, đến bếp từ… với gần 140 sản phẩm. “Tôi tự tin là công ty Việt nội địa hóa từ 80 đến 90%. Với tôi, cứ nhiều người đối đầu thì tôi càng thích, vì lợi thế nội địa hóa gần như hoàn toàn nên không sợ gì cả. Đầu tư máy móc ngành này lớn, nhưng lợi nhuận không cao, từ 5 đến 10% thôi. Có cái chỉ lãi khoảng 3%, nhưng mức phát huy đều đặn 20-25% cho mình sự lạc quan. Quan niệm của tôi là lợi nhuận ít, quan trọng là mình làm để nhiều người có công việc”, bà Minh bộc bạch và cho hay chủ trương nhắm vào phân khúc bình dân ngay từ lúc đầu. Giá sản phẩm bình quân chỉ hơn 200.000 đồng, sản phẩm tốt nhất cũng  chưa tới 1 triệu đồng, nên nồi cơm điện của bà hiện chiếm thị đa phần cả nước.

“sản phẩm của tôi chủ yếu chiếm lĩnh vùng nông thôn, chưa có mặt ở các ngay giữa điện máy thành phố lớn do tiềm năng thu hồi vốn chậm. Tại các ngay giữa điện máy, thường công nợ rất lớn và lâu, dòng vốn để lưu thông chậm, dễ mất cơ hội đầu tư mua bán, trong khi nhân sự của mình còn mỏng chưa kham nổi”, bà Minh nói, đồng thời chia sẻ từ lúc tạo ra đơn vị đến nay, bà vẫn gần như kham mọi khâu, từ kinh doanh đến marketing, nhưng các khách hàng vẫn tự tìm đến, nên bộ máy phòng ban rất gọn nhẹ, chỉ vài người.

Có một thói quen người ngoài ít biết là cho đến tận giờ đây, bà Minh vẫn thường thức dậy mỗi sáng từ lúc 5h, trực tiếp đi chợ, chăm chút chuyện nấu nướng và đã có lần bữa ăn cho hơn 300 cán bộ công nhân lực của mình. Bà còn xây  nhà trọ free cho công nhân ở.

“Ngay từ nhỏ đã thiếu thốn mọi bề, cứ 12 giờ đêm bố lại thức dậy nấu cơm, bỏ vào mo cau cho các anh chị em lên rừng đốn củi, đem chợ bán đổi lấy tiền mua gạo, nên với tôi không thể nào quên được. Do đó, với công nhân của mình, tôi cũng muốn được tự tay chăm sóc họ”, bà Minh kể và cho hay liên tục nói với hai người con của mình, “công nhân là tài sản lớn nhất của mẹ, nhờ có công nhân chiến đấu cùng thì mẹ mới có được thành quả ngày hôm nay. Dù mẹ có biến mất thì sự nghiệp của các con vẫn phải lấy người công nhân làm gốc, hãy yêu thương họ bằng tấm chân tình giữa người làm với người làm, chứ đừng phân biệt chủ hay tớ”.

Ở độ tuổi gần 60, doanh thu đơn vị không ngừng tăng, đạt khoảng 850 tỷ đồng một năm, bà Minh cho hay đang tạo ra các ban bệ điều hành được đào tạo bài bản hơn, giúp đỡ bà làm hi vọng mở rộng một vài nhà máy nữa để người dân có thêm việc làm.

Song Thương

Nguồn kinhdoanh.vnexpress.net